Tăng trưởng kinh tế Việt Nam: Bức tranh năm 2022 và định hướng 2023
Năm 2022, kinh tế thế giới đối mặt với nhiều thách thức, các nền kinh tế hàng đầu phải chống chọi với nhiều khó khăn, gây ảnh hưởng không thuận lợi cho tất cả các quốc gia có độ mở kinh tế lớn. Mặc dù vậy, Việt Nam vẫn được đánh giá là một “điểm sáng” trong “bức tranh kinh tế tối màu” của thế giới với những con số “kỷ lục” đạt được so với nhiều năm trước đây.

Bài viết đi sâu nhận diện và đánh giá những thành tố tạo nên thành quả tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2022 và phát hiện những gì còn đang là rào cản trong quá trình thực hiện những bứt phá phát triển, làm cơ sở luận cứ cho một số định hướng và giải pháp tăng trưởng kinh tế năm 2023.

Tăng trưởng kinh tế Việt Nam: Bức tranh năm 2022 và định hướng 2023
GDP năm 2022 tăng 8,02%, vượt khá nhiều mục tiêu kế hoạch (Quốc hội giao 6%-6,5%), đạt mức tăng cao nhất trong giai đoạn 2011-2022

NHỮNG THÀNH QUẢ BỨT PHÁ CỦA NĂM 2022

Tăng tưởng GDP đạt cao nhất trong 12 năm

Có thể nói, năm 2022 tình hình thế giới và trong nước gặp khá nhiều khó khăn, xung đột giữa Nga và Ukraine dẫn đến nhiều hệ luỵ chi phối nền kinh tế trên toàn thế giới, nhiều chuỗi cung ứng toàn cầu tiếp tục bị đứt gãy. Tuy nhiên, với sự năng động, vượt khó của cộng đồng doanh nhân, tư duy đột phá, hành động khẩn trương, linh hoạt, đặt hiệu quả chỉ đạo lên trên hết của Chính phủ cùng với sự đồng hành hiệu quả của Quốc hội trong ban hành chủ trương, chính sách, đã thúc đẩy kinh tế Việt Nam phát triển. GDP năm 2022 tăng 8,02%, vượt khá nhiều mục tiêu kế hoạch (Quốc hội giao 6%-6,5%), đạt mức tăng cao nhất trong giai đoạn 2011-2022 (Hình 1).

Hình 1: Tốc độ tăng trưởng GDP, giai đoạn 2011-2022

Đơn vị: %

Nguồn: Niên giám Thống kê các năm

Tốc độ tăng trưởng nhanh năm 2022 đã giúp quy mô nền kinh tế Việt Nam lần đầu tiên cán mốc trên 400 tỷ USD (Hình 2).

Hình 2: Quy mô GDP của nền kinh tế

Đơn vị: Tỷ USD

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Tốc độ tăng trưởng 8,02% của Việt Nam đạt được năm 2022 cao hơn nhiều so với mức trung bình toàn cầu (2,7% – IMF), của các nước châu Á (4,4% -IMF) và so với nhiều nước khác: Thái Lan 3,4% (WB), Malaysia: 6,5% (Ngân hàng Trung ương Malaysia), Trung Quốc: 3,2% (IMF), Indonesia: 5,4% (ADB), Philippines: 6,5% (ADB). Điều đáng nói là, trong bức tranh tăng trưởng chung, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,36%; đảm bảo cung cấp đầy đủ nhu cầu lương thực thực phẩm của nền kinh tế với giá ổn định là nền tảng trong kiểm soát lạm phát bình quân cả năm ở mức 3,15%, thấp hơn khá nhiều mục tiêu lạm phát 4% trong bối cảnh giá lương thực, thực phẩm tăng cao tại nhiều quốc gia trên thế giới. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao gấp 2,5 lần tỷ lệ lạm phát cũng là thành quả của Việt Nam trong bối cảnh thế giới đang đối mặt với lạm phát cao nhất trong 40 năm qua và tăng trưởng thấp.

Thành quả tăng trưởng đạt được đã cải thiện nhất định đến thu nhập của dân cư. Thu nhập bình quân đầu người năm 2022 ước đạt 4,6 triệu đồng/người/tháng, tăng 9,5% so với năm 2021, xấp xỉ tăng 4 lần so với năm 2010 (đạt 1,387 triệu đồng). Tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập trong tháng không thay đổi và tăng lên so với cùng kỳ năm 2021 là 85,5%. Tỷ lệ nghèo tiếp cận đa chiều ước khoảng 3,6%, giảm 0,8 điểm phần trăm so với năm 2021 [5].

Ngành công nghiệp chế biến chế tạo khẳng định vị trí quyết định trong tăng trưởng kinh tế

Trong năm 2022, mặc dù gặp nhiều khó khăn, nhưng các doanh nghiệp công nghiệp đã chủ động hơn về lao động và kế hoạch sản xuất kinh doanh, khắc phục khó khăn để phục hồi, mở rộng sản xuất. Đầu tư phát triển vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo được đẩy mạnh chiếm 47,2% tổng vốn đầu tư xã hội. Chính vì thế, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng của toàn nền kinh tế với tốc độ tăng 8,10%, cao hơn tốc độ tăng trưởng trung bình toàn ngành công nghiệp (đạt 7,69%) đóng góp 26% (hơn 1/4) vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Với tốc độ tăng trưởng nhanh nhất, tỷ trọng ngành công nghiệp chế biến chế tạo so với GDP toàn nền kinh tế đã vươn lên chiếm cao nhất kể từ năm 2015 trở lại đây (Bảng 1).

Bảng 1: Tỷ trọng của công nghiệp và công nghiệp chế biến chế tạo trong GDP

Đơn vị: %

Năm

2015

2017

2018

2019

2020

2021

2022

Tỷ trọng của công nghiệp

27,8

27,7

28,4

28,6

27,5

39,1

32,03

Tỷ trọng của công nghiệp CBCT

13,7

15,3

16,0

16,5

16,7

24,76

25,13

Nguồn: Tính toán từ số liệu Tổng cục Thống kê

Ngành công nghiệp chế biến chế tạo đã khẳng định vị trí quyết định đến thực hiện kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam (Bảng 2).

Bảng 2: Chuyển dịch cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu thời kỳ 2011-2022

Đơn vị: %

Nhóm hàng

2010

2020

2022

1. Nhóm hàng nhiên liệu, khoáng sản

11,2

1,0

0,6

2. Nhóm hàng nông, lâm, thủy sản

21,2

8,9

7,5

3. Nhóm hàng công nghiệp CBCT

55,6

85,2

86,7

4. Nhóm hàng mới

12

4,9

5,2

Nguồn: Tính toán từ số liệu Tổng cục Thống kê

Ngành thương mại – dịch vụ đạt tăng trưởng cao nhất trong 12 năm

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, khu vực dịch vụ được khôi phục và tăng trưởng mạnh mẽ với tốc độ tăng năm 2022 đạt 9,99%, cao nhất trong giai đoạn 2011-2022 (Hình 3).

Hình 3: Tốc độ tăng giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ, giai đoạn 2011-2022

Đơn vị: %

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Đóng góp vào kỷ lục tăng trưởng ngành Thương mại – dịch vụ phải kể đến hai điểm sáng, đó là thương mại bán lẻ hàng hóa và xuất nhập khẩu. Hoạt động thương mại và dịch vụ tiêu dùng năm 2022 khôi phục mạnh mẽ khi dịch Covid-19 được kiểm soát. Tính chung năm 2022, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 19,8% so với năm trước. Điều đáng nói là, tốc độ tăng trưởng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2022 không chỉ tăng nhanh so với cùng kỳ năm trước, mà còn tăng nhanh hơn những năm trước khi có Covid-19 (năm 2018 đạt 11%, năm 2019 là 12,5%). Tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2022 đã vượt mức của năm 2019, năm trước khi xảy ra dịch Covid-19 là 15%. Kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa cả năm vượt mốc 730 tỷ USD, với 36 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, lần đầu tiên xuất khẩu thuỷ sản cán mốc 10 tỷ USD, đưa Việt Nam là quốc gia xuất khẩu thủy sản lớn thứ 3 thế giới, chiếm trên 7% thị phần toàn cầu, cán cân thương mại xuất siêu ở mức cao, đạt 11,2 tỷ USD, góp phần giảm bớt áp lực tỷ giá trên thị trường ngoại tệ.

NHỮNG RÀO CẢN TĂNG TRƯỞNG NĂM 2022

Một là, sự giảm sút tăng trưởng trầm trọng của ngành công nghiệp trong quý IV

Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, GDP quý IV/2022 chỉ đạt 5,92% so với cùng kỳ năm trước, tuy cao hơn tốc độ tăng 4,7% và 5,17% của cùng kỳ năm 2020 và 2021, nhưng thấp hơn tốc độ tăng của quý IV các năm 2011-2019 . Nguyên nhân chủ yếu là sự sụt giảm khá lớn của ngành công nghiệp. Sản xuất công nghiệp quý IV/2022 có xu hướng tăng chậm lại, tốc độ tăng giá trị tăng thêm ước đạt 3,6%. so với cùng kỳ năm trước (chỉ bằng 60,8% so với tốc độ tăng trưởng chung) và giảm nghiêm trọng so với các quý khác của năm 2022.

Hình 4: Tốc độ tăng trưởng công nghiệp các quý năm 2022

Đơn vị: %

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Trong đó, phải kể đến sự giảm sút tăng trưởng của ngành chủ lực đó là ngành công nghiệp chế biến chế tạo. Quý IV/2022 chỉ đạt tốc độ tăng trưởng 2,98%, trong khi đó các quý I,II,III tăng trưởng khá nhanh (lần lượt : 7,85%; 11,07%; 11,58%). Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) quý IV chỉ đạt 3% (so với quý II 9,8%; quý III/2022 10,9%) mà nguyên do chính là do đơn hàng sụt giảm, chi phí đầu vào ở mức cao và thiếu hụt nguồn cung nguyên vật liệu do sự đứt gãy chuỗi cung ứng của ngành chế biến chế tạo và chính sách thắt chặt tiền tệ để chống lạm phát cùng nguy cơ suy thoái kinh tế tại nhiều quốc gia châu Âu, Mỹ cũng như toàn cầu. Theo điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê, quý IV, có tới 33,7% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn (con số này ở quý III chỉ có 25%), 34,9% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng giảm (quý III là 26%). Các đơn hàng giảm trầm trọng ở nhiều ngành xuất khẩu chủ lực, như: dệt may, da giày, nội thất, nhôm công nghiệp, sắt thép, xi măng. Vì thế, nhiều doanh nghiệp đã phải cắt giảm nhân công, giảm quy mô sản xuất trong các tháng cuối năm 2022.

Thứ hai, một số lĩnh vực dịch vụ có giá trị gia tăng cao chưa khôi phục được mức tăng trưởng trước thời kỳ xảy ra dịch Covid-19

Ngành vận tải hành khách: Tính chung năm 2022, vận tải hành khách ước đạt 3.664,1 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 52,8% so với năm trước (năm 2021 giảm 32,7%) và luân chuyển đạt 171,8 tỷ lượt khách.km, tăng 78,3% (năm 2021 giảm 40,9%). Mặc dù có sự gia tăng so với năm trước, nhưng trong lĩnh vực vận tải hành khách, sản lượng vận chuyển năm 2022 chỉ bằng 72,5% và luân chuyển bằng 69,4% so với năm 2019, năm chưa có dịch Covid-19. Trong đó, mức giảm so với trước khi có đại dịch Covid-19 mạnh nhất là đường sắt, đường bộ, tiếp đó là hàng không và đường thủy nội địa (Bảng 3).

Bảng 3: Tỷ lệ giảm vận tải hành khách năm 2022 so với năm 2019

Đơn vị: %

Loại hình vận tải

Giảm vận chuyển

Giảm luân chuyển

Đường sắt

45

49,4

Đường bộ

29,4

33

Đường biển

20,4

7,1

Đường không

10,6

25,2

Đường thủy nội bô

0

26,3

Nguồn: Nhóm tác giả tính toán từ số liệu Tổng cục Thống kê

Riêng vận chuyển hàng hóa năm 2022 có nhiều dấu hiệu khởi sắc và vượt mức trước khi có đại dich Covid-19, tuy nhiên vận tải hàng hóa bằng đường không lại không theo quy luật đó. Mặc dù tăng 0,3% về vận chuyển, nhưng vẫn giảm 56,5% về luân chuyển so với năm 2021 và giảm 36,2% về vận chuyển, giảm 22,3% về luân chuyển so với năm 2019 (trước đại dịch).

Về khách du lịch quốc tế: Tính chung năm 2022, khách quốc tế đến nước ta đạt 3,66 triệu lượt người, gấp 23,3 lần so với năm 2021. Tuy nhiên, sự tăng trưởng cao này vẫn chưa bằng được mức của trước khi xảy ra đại dịch Covid-19, tốc độ tăng trưởng khách du lịch quốc tế vẫn giảm 79,7% so với năm 2019. So với kế hoạch đặt ra cho năm 2022 là 5 triệu khách, thì con số thực tế chỉ đạt 70%. Nếu so với một số các nước mà Việt Nam có khả năng cạnh tranh, thì kết quả đạt được của Việt Nam còn khiêm tốn hơn nhiều. Ví dụ: năm 2022, tổng khách du lịch quốc tế đến Thái Lan đạt 10 triệu người, với doanh thu khoảng 14 tỷ USD, Malaysia: 9,8 triệu khách.

Ba là, một số yếu tố liên quan đến quan hệ kinh tế với nước ngoài có xu hướng giảm tốc độ tăng trưởng

(1) Tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký vào Việt Nam thấp nhất trong vòng 5 năm trở lại đây. Vốn FDI đăng ký bao gồm: vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, tính chung cả năm 2022 ước đạt gần 27,72 tỷ USD, giảm 11% so với năm trước và đây là con số thấp nhất, kể từ năm 2013 trở lại đây.

Hình 5: Vốn FDI cam kết giai đoạn 2018-2022

Đơn vị: Tỷ USD

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Việc dòng vốn cam kết giảm mạnh là do ảnh hưởng của nhiều rủi ro và biến động trên thế giới, những khó khăn trong việc đứt gãy chuỗi giá trị tạo ra những do dự của các nhà đầu tư nước ngoài vào việt Nam. Về phía Việt Nam, cũng có lý do từ khía cạnh thực hiện các cam kết đầu tư với các nhà đầu tư nước ngoài chưa thực sự tốt. Điều này gây ảnh hưởng, ít nhất là trong ngắn hạn đối với kinh tế Việt Nam, đặc biệt là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.

(2) Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất – nhập khẩu hàng hóa chậm lại so với 5 năm trở lại đây, nhất là ở khu vực FDI. Theo số liệu tính toán từ Tổng cục Thống kê, năm 2022, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt 371,85 tỷ USD, tăng 10,6% so với năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 95,09 tỷ USD, tăng 6,5%, chiếm 25,6% tổng kim ngạch xuất khẩu, khu vực có vốn FDI (kể cả dầu thô) đạt 276,76 tỷ USD, tăng 12,1%, chiếm 74,4%. Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa năm 2022 ước đạt 360,65 tỷ USD, tăng 8,4% so với năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 125,79 tỷ USD, tăng 10% và khu vực có vốn FDI đạt 234,86 tỷ USD, tăng 7,5%. Tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu có xu hướng giảm, nhất là ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và đạt thấp nhất kể từ năm 2016 trở lại đây (Bảng 4).

Bảng 4: Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất – nhập khẩu 2016-2022 (%)

Tiêu chí

2016

2017

2018

2020

2021

2022

1. Tăng trưởng xuất khẩu, trong đó:

  • Khu vực FDI

8,6

11,8

19,8

21,0

13,8

12,9

6,5

10,7

19,6

21,1

10,6

12,1

2. Tăng trưởng nhập khẩu, trong đó:

  • Khu vực FDI

4,6

10,5

23,1

26,1

8,6

11,6

3,6

13

26,5

29,1

8,8

7,5

Nguồn: Nhóm tác giả tính toán từ số liệu của Tổng cục Thống kê

Quý IV/2022, tình hình kim ngạch xuất nhập khẩu trở nên khó khăn hơn nhiều. tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu giảm 7,1% so với quý III/2022 và giảm 6,1% so với cùng kỳ năm trước, tương tự tăng trưởng kim ngạch nhập khẩu giảm 5,8% so với quý III/2022 và giảm 3,9% so với cùng kỳ năm trước.

Ảnh hưởng không tích cực của yếu tố nước ngoài trong lĩnh vực xuất nhập khẩu còn thể hiện ở sự suy giảm tăng trưởng kim ngạch xuất – nhập khẩu của 2 nhóm hàng thuộc khu vực FDI là điện thoại và linh kiện và điện tử máy tính và linh kiện, nhóm hai sản phẩm này đang chiếm tới 30,8% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam (Hình 6).

Hình 6: Tăng trưởng của các mặt hàng gắn với FDI

Đơn vị: Tỷ USD

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Tăng trưởng kinh tế Việt Nam: Bức tranh năm 2022 và định hướng 2023
khu vực dịch vụ được khôi phục và tăng trưởng mạnh mẽ với tốc độ tăng năm 2022 đạt 9,99%, cao nhất trong giai đoạn 2011-2022

Thậm chí, quý IV, tăng trưởng của các sản phẩm này đều nhận giá trị âm: điện tử, máy tính và linh kiện giảm 6%; điện thoại, linh kiện giảm 14%. Việc suy giảm tăng trưởng ngành công nghiệp nói chung và các ngành xuất nhập khẩu thuộc công nghiệp chế biến nói riêng là do tình hình kinh tế thế giới có nhiều biến động, gây ảnh hưởng tiêu cực đối với Việt Nam, một nền kinh tế độ độ mở lớn. Đây cũng là một mối nguy cơ ảnh hưởng không tích cực đến kinh tế Việt Nam năm 2023.

ĐỀ XUẤT MỤC TIÊU TĂNG TRƯỞNG NĂM 2023

Việc đề xuất mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2023 được dựa trên những căn cứ sau đây:

(1) Dự báo của một số tổ chức quốc tế và trong nước

Bảng 5: Tổng hợp các dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2023

Các tổ chức Dự báo Lý do
Ngân hàng thế giới (WB)

6,7%-7%

Nhu cầu quốc nội phục hồi mạnh mẽ và hoạt động chế biến, chế tạo theo định hướng xuất khẩu vẫn tiếp tục phát triển vững chắc
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF)

6,2%

Do nhu cầu yếu hơn ở các đối tác thương mại lớn, như: Trung Quốc, khu vực đồng Euro và Hoa Kỳ.
Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB)

6,3%

Do các đối tác thương mại lớn suy yếu
Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc – UNDP

6,5%-6,7%

Nhờ vào sự phục hồi chi tiêu của người tiêu dùng, xuất khẩu tăng mạnh trong mấy quý, và hoạt động du lịch quốc tế dần trở lại
Ngân hàng HSBC

5,8%

Những khó khăn trong thương mại ngày càng gia tăng.

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp

(2) Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2023

Tại kỳ họp thứ 4, ngày 10/11/2022, Quốc hội khóa XV đã biểu quyết thông qua Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2023, theo đó các chỉ tiêu chủ yếu gồm: Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) khoảng 6,5%; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 4.400 USD. Tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP đạt khoảng 25,4%-25,8%. Tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân khoảng 4,5%. Tốc độ tăng năng suất lao động xã hội bình quân khoảng 5,0%-6,0%. Tỷ trọng lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội đạt 26,2%. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 68%, trong đó có bằng, chứng chỉ đạt khoảng 27,5%. Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị dưới 4%. Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo đa chiều) giảm khoảng 1%-1,5%. Để đạt được mục tiêu trên, Nghị quyết Quốc hội đã nêu rõ điêu kiện cần là: Đẩy mạnh cơ cấu lại, nâng cao năng lực nội tại, tính tự lực, tự chủ, khả năng chống chịu và thích ứng của nền kinh tế; quyết tâm thực hiện hiệu quả với nỗ lực cao nhất Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội, 3 Chương trình mục tiêu quốc gia; thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tăng trưởng xanh, chuyển đổi số.

(3) Những thông tin từ phía doanh nghiệp

Kết quả khảo sát xu hướng kinh doanh các doanh nghiệp chế biến chế tạo quý I/2023 được thực hiện bởi Tổng cục Thống kê cho thấy, những nhận định chưa thực sự lạc quan của doanh nghiệp về tình hình sản xuất, kinh doanh năm 2023: khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước có khoảng 30% số doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất, kinh doanh quý I/2023 kém hơn so với quý IV/2022, tỷ lệ này ở khu vực doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cao hơn, lần lượt là 32% và 35%. Cụ thể: Về khối lượng sản xuất: có 30,1% số doanh nghiệp dự báo giảm so với quý IV/2022; Về đơn đặt hàng, 39,4% số doanh nghiệp dự kiến đơn hàng giảm; Về đơn đặt hàng xuất khẩu, 33,3% số doanh nghiệp dự kiến giảm. Như vậy, thông tin từ phía doanh nghiệp cho thấy, tăng trưởng kinh tế khó có thể đạt mức của năm 2022, mức đạt được có thể là khoảng 7,5%.

(4) Đặt mục tiêu tăng trưởng năm 2023 trong việc thực hiện mục tiêu kế hoạch tăng trưởng giai đoạn 2021-2025

Mức tăng trưởng bình quân ba năm (2020-2022) chỉ đạt từ 4,28% đến 4,45%, thấp hơn nhiều so với mức tăng trưởng bình quân của 5 năm trước đó. Như vậy, để đạt mục tiêu tăng trưởng từ 6,5% đến 7% đề ra trong Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2021-2025, bình quân tăng trưởng những năm còn lại phải đạt khoảng 7,4%-7,5%. Đây là thách thức không nhỏ đối với nền kinh tế nước ta trong thời gian tới. Là nền kinh tế có độ mở cao, Việt Nam không thể tránh khỏi bị ảnh hưởng của những biến động từ bên ngoài, trong khi kinh tế thế giới năm 2023 được hầu hết các tổ chức quốc tế dự báo sẽ tăng trưởng chậm lại, gia tăng khả năng suy thoái trong ngắn hạn, có chiều hướng diễn biến phức tạp, trái quy luật, khó dự báo hơn. Tuy vậy, năm 2023 là năm bản lề thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm giai đoạn 2021-2025, cần phải đạt được một con số tích cực hơn.

Dựa vào các căn cứ trên, nhóm tác giả đề xuất mục tiêu tăng trưởng năm 2023 là 6,5%-7%. Con số này phù hợp với nững dự báo tích cực trong tăng trưởng GDP của Việt Nam của một số tổ chức quốc tế (WB, UNDP), phù hợp với cận dưới của Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2023 được Quốc hội phê duyệt, đồng thời còn thể hiện vai trò của năm bản lề của việc đạt được chỉ tiêu tăng trưởng đặt ra trong kế hoạch 5 năm 2021-2025. Tuy vậy, mục tiêu này đạt được kèm theo những giải pháp tích cực.

CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

Bài viết trực tiếp đi vào những rào cản làm giảm tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2022 đã chỉ ra ở trên và xem như đó chính là các nội dung cần tháo gỡ cho năm 2023.

Thứ nhất, giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp công nghiệp

Bên cạnh các chỉ đạo sát sao và chủ trương, chính sách kiến tạo môi trường kinh doanh của Chính phủ, rất cần sự nỗ lực tiếp tục của cộng đồng doanh nghiệp để vượt qua khó khăn. Với việc nhận diện về những khó khăn của năm 2022 của doanh nghiệp, những giải pháp tháo gỡ bao gồm:

– Phân tích các giải pháp tối ưu thị trường, tìm kiếm thị trường thay thế hoặc bổ sung trong bối cảnh một số thị trường truyền thống của cả nhập khẩu, xuất khẩu đều gặp rất nhiều khó khăn. Trong quá trình này, còn cần chú trọng phân tích các xu hướng và yêu cầu mới sẽ phát sinh ở các thị trường, đặc biệt xu hướng thiết lập các hàng rào kỹ thuật gắn với mục tiêu xanh hóa, giảm phát thải do các liên minh xanh đang thúc đẩy trên phạm vi toàn thế giới.

– Để hỗ trợ nỗ lực phục hồi của doanh nghiệp, đặc biệt với các doanh nghiệp tư nhân trong nước trong bối cảnh doanh nghiệp đối diện với khó khăn rất lớn về dòng tiền, đề xuất Chính phủ xem xét kéo dài tới hết năm 2023 một số chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đã phát huy hiệu quả thiết thực trong giai đoạn đại dịch Covid-19.

– Đối với việc duy trì niềm tin của doanh nghiệp vào môi trường đầu tư, kinh doanh của Việt Nam, đề xuất Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành thực hiện nghiêm túc, thực chất quy trình tham vấn, lấy ý kiến của doanh nghiệp khi xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật liên quan, không chỉ lấy ý kiến một vài đơn vị mang tính đại diện; đồng thời tập trung rà soát, cải thiện, đẩy mạnh trực tuyến hóa một số nhóm quy trình, thủ tục có tần suất thực hiện lớn và có ảnh hưởng tới hầu hết doanh nghiệp.

Thứ hai, giải pháp nhằm tăng cường khối lượng vốn FDI cam kết

Là thị trường hấp dẫn nhờ quy mô dân số đông và là mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng, Việt Nam tiếp tục là điểm đến đầu tư hấp dẫn đối với nhà đầu tư nước ngoài. Dù vậy, trước thực tế vốn đăng ký đang giảm, vấn đề lúc này của Việt Nam là phải nhanh chóng đưa những cam kết đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài trở thành hiện thực, đặc biệt là đối với những dự án quy mô lớn, có hàm lượng công nghệ, kỹ thuật cao… Để làm được điều này, Việt Nam phải nhanh chóng có chính sách phù hợp và thích ứng với sự thay đổi, vận động của dòng vốn FDI toàn cầu trước những biến động khó lường về địa chính trị cũng như sự cạnh tranh gay gắt trong thu hút FDI giữa các nước, đặc biệt là trong khu vực ASEAN. Bên cạnh việc tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh theo hướng tạo thuận lợi cho nhà đầu tư, hoàn thiện cơ sở hạ tầng đồng bộ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực…

Việt Nam cần xác định rõ lĩnh vực ưu tiên, dự án ưu tiên và đối tượng ưu tiên với những tiêu chí rõ ràng và cụ thể. Đặc biệt, trong bối cảnh Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 50NQ/TW, ngày 20/8/2019 về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030, Việt Nam cần nhanh chóng xây dựng các tiêu chuẩn để rà soát, sàng lọc dự án FDI chất lượng cao. Các tiêu chuẩn này chính là cơ sở để xác định dự án cần theo đuổi, nhà đầu tư cần theo đuổi. Đặc biệt, trong quá trình làm việc với các đối tác nước ngoài, phía cơ quan bộ, ngành, địa phương cần thường xuyên tìm hiểu, tháo gỡ khó khăn cho nhà đầu tư để thúc đẩy dự án sớm được đưa vào triển khai.

Thứ ba, giải pháp phát triển khách du lịch quốc tế

Để đạt mục tiêu gia tăng khách du lịch quốc tế, các chính sách cần được triển khai đồng bộ. Ngành du lịch sẽ tập trung vào các nhiệm vụ trọng tâm như: triển khai công bố “Quy hoạch hệ thống du lịch Việt Nam thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045” sau khi được Chính phủ phê duyệt; triển khai Chiến lược marketing du lịch Việt Nam đến năm 2030; triển khai đề án “Ứng dụng công nghệ công nghiệp 4.0 để phát triển du lịch thông minh, thúc đẩy du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn” và đề án phát triển du lịch cộng đồng Việt Nam sau khi các văn bản này được phê duyệt…

Kinh nghiệm từ các nước trong quá trình mở cửa du lịch quốc tế sau tác động của đại dịch Covid-19 cho thấy, các nhóm biện pháp mang lại hiệu quả gồm: chính sách về xuất – nhập cảnh – tạo thuận lợi, kéo dài thời gian lưu trú của khách; chính sách về hỗ trợ hàng không – tạo điều kiện mở rộng kết nối các đường bay quốc tế đến các thị trường trọng điểm. Bên cạnh đó, đa dạng hóa các dịch vụ du lịch để đáp ứng nhu cầu của khách du lich quốc tế hơn; áp dụng chính sách linh hoạt cho khách quốc tế. Tăng cường truyền thông, xúc tiến quảng bá du lịch, như: Chính phủ kết hợp với các địa phương tổ chức nhiều chiến dịch quy mô lớn quảng bá các điểm đến vốn còn vắng vẻ, thu hút những người ưa khám phá; xây dựng kế hoạch, chiến lược marketing du lịch trong bối cảnh mới; đăng cai tổ chức các sự kiện quốc tế lớn, thúc đẩy du lịch MICE (loại hình du lịch kết hợp hội nghị, hội thảo, triển lãm, tổ chức sự kiện, du lịch khen thưởng của các công ty cho nhân viên, đối tác). Bên cạnh đó, tập trung hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực.

Ngoài ra, cần đơn giản hóa, linh hoạt thủ tục xuất, nhập cảnh, mở rộng danh sách quốc gia được miễn thị thực với các nước EU, Canada, Mỹ, Australia, New Zealand, Ấn Độ và cấp visa điện tử; mở rộng kết nối hàng không, tiếp tục quan tâm đầu tư phát triển hạ tầng dịch vụ du lịch, y tế và vệ sinh, hạ tầng mặt đất và cảng; kết nối lại tất cả các thị trường có chính sách thông thoáng cho người dân đi du lịch nước ngoài và có đường bay thuận tiện đến Việt Nam, như: châu Âu, Mỹ, Australia và thị trường mới nổi, như: Trung Đông, Ấn Độ; tập trung ứng dụng số trong ngành du lịch./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Chính phủ (2022), Tài liệu Hội nghị thúc đẩy thu hút khách du lịch quốc tế vào Việt Nam, ngày 21/12/2022, Hà Nội.

2. IMF (2022), Báo cáo triển vọng phát triển kinh tế thế giới 2022.

3. Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) (2022), Báo cáo Cập nhật Triển vọng phát triển châu Á (ADB) 2022.

4. Ngân hàng Thế giới (WB) (2022), Báo cáo cập nhật khu vực kinh tế châu Á, Thái Bình Dương.

5. Tổng cục Thống kê (2022), Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội quý IV và năm 2022.

6. Tổng cục Thống kê (2016-2021), Niên giám Thống kê các năm, từ năm 2016 đến năm 2021, Nxb Thống kê.

7. Quốc hội khóa 15 (2022), Nghị quy

Theo Tạp chí Kinh tế và Dự báo